• Cảnh Sông Đà chụp từ Cốt 400
  • Toàn cảnh núi Ba Vì
  • Rừng thông trong khu du lịch Ba Vì Resort
  • Hoàng hôn núi Ba Vì

Trang chủ » Điều kiện tự nhiên, Tin tức mới » ĐA DẠNG THẢM THỰC VẬT VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ

ĐA DẠNG THẢM THỰC VẬT VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ

Ts. Trần Minh Tuấn – Trưởng phòng KH & HTQT VQG Ba Vì

I. Đặt vấn đề

Thảm thực vật được ví như bộ khung chính của một hệ sinh thái trên cạn, có vai trò cực kỳ quan trọng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Đối với Vườn quốc gia Ba Vì, nhiệm vụ bảo tồn chỉ thành công khi các nghiên cứu về thảm thực vật được thực hiện đầy đủ và chi tiết.

Nghiên cứu về sự đa dạng của thảm thực vật bao gồm đa dạng thành phần loài và cấu trúc tầng thứ, thực vật ngoại tầng, sự đa dạng về các quần xã thực vật. Bên cạnh đó, những thay đổi trong diễn thế sinh thái thảm thực vật là cơ sở rất quan trọng để dự đoán cấu trúc thảm thực vật trong tương lai, có ý nghĩa quan trọng và quyết định đối với công tác bảo tồn, cả hệ động vật, hệ thực vật và hệ sinh thái tại Vườn quốc gia Ba Vì.

II. Thảm thực vật VQG Ba Vì gồm các kiểu, kiểu phụ sau

2.1 Thảm thực vật tự nhiên

Thảm thực vật ở vành đai nhiệt đới trên đất địa đới

2.1.1 Rừng thứ sinh cây lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm. 

2.1.1.1 Trạng thái rừng thứ sinh ít bị tác động

Ở những nơi có độ dốc cao, rừng còn tốt, ở đó vẫn còn những cây vượt tán, cấu trúc ít nhiều bị phá hủy nhưng vẫn còn những loài cây gỗ lớn sót lại từ trạng rừng kín trước đây. Cấu trúc rừng như sau:

Tầng vượt tán: gồm các cây có chiều cao trên 25m. Ở sườn phía tây có một số cây cao tới 38m. Nhiều cây có đường kính gốc đến trên 1m, đó đều là những cây còn xót lại của trạng thái rừng nguyên sinh trước đây. Những loài cây có mặt ở đây là: Elaeocarpus sp., Pometia pinnata., Allospondias lakhoensis., Cryptocarya sp., Engelhardtia sp., Houdendron tibeticum, Lithocarpus sp., Machilus bonii, Archidendron balansae, Castanopsis tonkinensis,…

Tầng ưu thế sinh thái: gồm các cây gỗ cao đến 25m, với các loài đặc trưng là Macaranga denticulata, Aphananthe aspera, Archidendron balansae, Schefflera heptaphylla, Machilus bonii, Castanopsis indica, Saraca dives,…. và một số loài khác như và Amoora gigantea (Gội), Caryodaphnopsis baviensis (Cà lồ Ba Vì), Dracotomelum duperreanum (Sấu), Madhuca pasquieri (Sến), Michelia balansae (Giổi), Lithocarpus corneus (Sồi đỏ), Elaeocarpus balansae (Côm Balansa), Peltophorum dassyrrachis var. tonkinensis (Hoàng linh Bắc Bộ), Canarium album (Trám trắng)…..

Tầng dưới tán: gồm các cây gỗ cao dưới 15m. Các loài thường gặp có Castanopsis indica, Villebrunea intergrifolia, Alangium kurzii, Macaranga denticulata, Aglaia perviridis, Macaranga indica, Archidendron sp., Claoxylon indicum, Aglaia perviridis, Knema conferta, Saraca divers, Litsea glutinosa, Alstonia angustifolia, Cratoxylon formosum, Dendrocnide urentissima, Wightia annamensis, và một số loài khác như Actinodaphne obovata (Bộp lá tù), Bischofia javanica (Nhội), Michelia sp. (Giổi),.

Tầng cây bụi thưa, có mật độ 3000 cây/ha, gồm Cyathea spp. (các loài Tọa liên), Schefflrea spp. (chân chim), Cinnamomum spp. (các loài Re), Diospyros sp. (Thị), Garcinia sp. (Bứa), Lithocarpus sp. (Sồi), Ficus spp. … và các loài Anadendrum latifolium, Asplenium prolongatum , Diospyros sp., Claoxylon longifolium,….

Tầng cỏ thưa gồm các loài trong các họ Sellaginaceae (Quyển bá), Angiopteridaceae (Móng ngựa), Gleicheniaceae (Guột), Polypodiaceae (Ráng đa túc), Pteridaceae (Chân xỉ), Adiantaceae (Nguyệt xỉ), Phrynium sp. (Lá dong), Musa sp. (Chuối rừng), Amomum sp. (Sa nhân), Costus sp. (Mía dò), Begonia spp. (Thu hải đường). Cotus tonkinensis (Mía dò).

Dây leo gỗ khá nhiều thuộc các họ Gnetaceae (Gắm), Fabaceae (Đậu), Vitaceae (Nho), Diosscoreaceae (Củ nâu), Asclepiadaceae (Thiên lý), Cucurbitaceae (Bầu bí), Smilacaceae (Khúc khắc). Các loài phụ sinh nhiều, chủ yếu là các loài Dương xỉ và các loài trong họ Orchidaceae (Phong lan), Aglaonema simplex, Clolysis digitata,…

2.1.1.2 Trạng thái rừng thứ sinh bị tác động vừa

Đa phần rừng thứ sinh ở độ cao dưới 700m hiện bị phá vỡ cấu trúc mạnh mẽ, không có tầng vượt tán, tầng tán cũng không liên tục và có nhiều loài mọc nhanh. Trạng thái rừng trung bình có cấu trúc rừng được khảo sát chỉ ra như sau:

Tầng ưu thế sinh thái: gồm các cây cao 10-15m, độ khép tán 0,5 – 0,6. Do bị chặt phá nhiều trong quá khứ, đang trong quá trình phục hồi nên tầng cây gỗ này có tán nhấp nhô không liên tục có thể chia ra 2 tầng phụ: tầng tán cao (A1), bao gồm nhiều loài cây sống lâu cho gỗ tốt thuộc các nhóm II; III; IV; V và một ít loài gỗ trong các nhóm VI; VII. điển hình là các loài: Đinh Thối, Giổi, các loài Re, các loài Kháo, Rè vàng, Thanh thất, Trám Trắng, Sấu, Gội, Xoan Nhừ, chúng có chiều cao vượt tầng A2; tầng tán thấp (A2) là tầng chính của rừng có chiều cao trung bình tư 10 – 12 m độ khép tán ngang cao, ngoài cây của tầng A1 có mặt ở đây còn có nhiều loài cây khác có giá trị như: Re Hương, Thanh Thất, Re Gừng, Kháo Đá, Kháo Vàng, Dẻ Cau, Dẻ Gai, Sồi hồng, Sồi xanh, Gội, Phay, Nhội, Mọ, Xoan nhừ, Trường chua, Thôi chanh, Xoan đào, …. Đặc biệt ở tầng này ta còn thấy xuất hiện các loài quý như Trai lý, Vàng kiêng, Giổi Xanh, Giổi, với số lượng nhỏ. Các loài cây gỗ của tầng cây gỗ có mật độ trung bình từ 400-600cây/ha.

Tầng cây bụi và cây tái sinh: thường cao không quá 3m, có đường kính d<6cm; sức sinh trưởng của tầng cây bụi không đồng đều, ở những nơi có độ khép tán thấp cây bụi phát thiển khá, ở những nơi có độ khép tán cao có tầng cây bụi thưa thớt. Thành phần loài gồm: Lấu, Trọng đũa tuyến, Trọng đũa lá khôi, Bồ cu vẽ, Mua cây cao. Ởnhững nơi sáng thành phần có nhiều Sim, Bồ cu vẽ, Quanh châu, Găng. Ngoài ra, trong tầng còn có các loài Tre, Nứa.

Tầng thảm tươi:nằm sát mặt đất gồm: các loại Cỏ, Ráy, Sa nhân, các loài Quyết thực vật, Thach tùng, Bòng bong. Ở nơi sáng tầng thảm tươi tập trung chủ yếu các loài: Ràng ràng, Bòng bong, các loài Cỏ và một số loài trong họ Gừng. Trong tầng thảm tươi đáng kể có các loài quý hiếm như: Rau rớn, Cẩu tích, Địa lan.

Thực vật ngoại tầng có: các loài phụ sinh gồm các loài: Phong lan, Dương xỉ; các loài dây leo thuộc họ Na, họ Trinh nữ, họ Vang, họ Đậu, họ Trúc đào, họ Cà phê, họ Thiên lý. Trong dây leo đáng chú ý có loài dây Đau xương, Dây Bình vôi, dây Hoàng đằng, dây Ngũ da bì,… là những loài quí hiếm cũng có mặt; cây ký sinh ít.

2.1.1.3 Trạng thái rừng thứ sinh bị tác động mạnh

Trạng thái rừng non, đa phần tái sinh sau hoạt động khai thác kiệt quệ, mang nhiều nét đặc trưng của rừng thứ sinh thường gặp ở vùng núi thấp của khu vực.Về cấu trúc thẳng đứng nhận thấy sự phân hóa chiều cao trong quần thụ không rõ rệt. Cấu trúc như sau:

Tầng ưu thế sinh thái:đã thống kê được trên 60 loài cây gỗ trong đó nhiều nhất là các loài thuộc họ Lauraceae – 6 loài, họ Moraceae – 7 loài, họ Fagaceae – 5 loài. ở đây gặp cả những loài ưa sáng tạm cư như Màng tang, Ba soi, Ba bét, và những loài cây định cư có tầm vóc to lớn, có đời sống dài như Giổi xanh. Tại đây cũng gặp nhiều loài cây gỗ quý như, Giổi (Michelia), Sến mật (Madhuca pasquieri), và một số loài Re, như Re Hương (Cinnamomum iners), Re lá nhỏ (Cinnamomum tetragonum), Re (Neocinamomum delavayi), và một số loài khác.

Tầng cây bụi và cây tái sinh: không phát triển, mọc thành từng đám hoặc rải rác dưới tán rừng. Các loài thường gặp là Bồ cu vẽ, Lấu (2 loài), Đơn nem (2loài), Dây trứng quốc (2 loài), Bọt ếch, Phèn đen, Thao kén, Quanh Châu … Tổng số có khoảng 20-25 loài. Cây tái sinh đã có số lượng đáng kể. Các loài chính thường gặp là Các loài Re, các loài Dẻ, Sung rừng, Mít rừng, Dền, Ngát, Cọc rào, Sơn rừng, Bứa, Máu chó, Dẻ gai ấn độ (Castanopsis indica), Vàng anh (Saraca divers), Cổng mạ, Kháo nước (Phoebe pallida), Rè vàng, Sơn rừng, Vải thiêù rừng (Nephelium chryseum), Dâu da xoan, Cà muối. Số lượng đạt 500-1000cây/ha và có sức sinh trưởng tương đối khá nhưng tỷ lệ triển vọng không cao.

Thực vật ngoại tầng gồm: Dây leo tương đối nghèo nàn, rải rác có gặp Móng bò leo, Dây mật, Bạc thau (3 loài), Ngấy (2 loài)…; nhóm cây ký phụ sinh ít gặp, chỉ có một vài loài thuộc họ Loranthaceae và Moraceae, một số loài của ngành Dương xỉ.

2.1.1.4 Trạng thái rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy

Rừng phục hồi sau nương rẫy tập trung chủ yếu trên một số sườn núi mà nguồn gốc trước đây do nhân dân đốt nương làm rẫy lâu năm bị thoái hoá bỏ lại. Nguồn giống cây rừng bị kiệt quệ nên tái sinh tự nhiên rất kém. Thực vật ở đây lác đác có các loài cây chồi như Dẻ gai – Kháo -Trâm – Thành ngạnh- Hoắc quang- Máu chó, cây bụi như: Sim, Sầm xì, Bồ cu vẽ, Lấu, Mua. Rừng sau khai thác kiệt có số cây tái sinh nhiều hơn. Các loài cây chính như Dẻ gai, Kháo, Thành ngạnh, Ngát, Hoắc quang- Máu chó, Sau Sau, Chẹo…

Tầng cây tái sinh lẫn trong tầng cây bụi gồm: Thẩu tấu, Sau sau, Chẹo, Mò gói thuốc, Bộp, Thôi ba, Ba soi, Lòng mang, Máu chó, Hoắc quang… Những loài cây cho gỗ tốt chủ yếu là tái sinh chồi từ rễ, gốc của các cây bị chặt như: Sồi ghè, Côm tầng, Thôi ba, Xoan nhừ, Mỡ, với số lượng ít.

1.1.2 Rừng Tre nứa thứ sinh nhiệt đới ẩm

Không phổ biến trong khu vực nghiên cứu. Phân bố thành các đám nhỏ vài trăm m2, thường dọc các suối có đất tốt. Rừng có nguồn gốc thứ sinh; hình thành trên các đất khai thác trắng rừng làm nương rẫy.

Tầng Tre Nứa ít, thường tạo thành đám riêng ở những nơi sáng, cao 5-8m, che phủ tương đối kín. Thành phần loài chủ yếu gồm Tre Ràng (Vầu nhỏ), Tre Sặt, Nứa tép.

1.1.3 Trảng cây bụi thứ sinh nhiệt đới ẩm

Trảng cây bụi có nguồn gốc thứ sinh; hình thành trên đất nương rẫy bỏ hoang .

Cây bụi cao 3-6m, có độ che phủ của cây bụi và gỗ đạt 35-60% tùy theo độ dày của tầng đất. Nếu tính cả độ che phủ của tầng cây gỗ ở phía trên, tầng cỏ phía dưới, độ che phủ đạt gần 100%. Tuy nhiên, trên đất có tầng dày, mật độ cây dày hơn và diện tích bóng cây gỗ, bụi phủ lên nhau nhiều hơn.

   Tầng cây bụi cao 1,5-2m, tạo độ che phủ 10-35%, mật độ cây 5300 cây/ha (nơi đất mỏng, sỏi sạn) đến 6300-6700 cây/ha. Các loài thường gặp: Dasymaschalon rostatum (Chuối chác dẻ), Desmos chinensis (Hoa giẻ thơm), Breynia fruticosa (Bồ cu vẽ), Glochidion velutinum (Sóc lông),.

   Trảng có một số cây gỗ cao 3-6m, đường kính 6-8cm, tạo độ che phủ 10-25%, với mật độ 321-900 cây/ha. Các loài thường gặp có Macaranga denticulata (Lá nến không gai), Alchornea rugosa (Bọ nẹt), Vernonia arborea (Cúc đại mộc), Mallotus apelta (Bục trắng), M. barbatus (Bùng bục), Trema orientalis (Hu đay),…

Các loài cỏ khá nhiều gồm các loài cỏ cao 2-4m như Thysanolaena maxima (Chít), Miscanthus floridulus (Chè vè), Erianthus arundinaceus (Lau), Eupatorium odoratum (Cỏ Lào); các loài cỏ thấp 30-60cm mọc dưới tán cây bụi, gỗ khá đa dạng gồm các loài Dương xỉ, các loài trong hai họ Poaceae (Hòa thảo), Cyperaceae (Cói) và các cây cỏ lá rộng thuộc các họ khác của ngành Hạt kín.

Dây leo khá phổ biến nhưng phổ biến hơn cả là các loài trong các họ Convolvulaceae (Bìm bìm), Schiazeaceae (Bòng bong), Smilacaceae (Khúc khắc) như Argyreia acuta (Bạc thau), Xenostegia tridentata (Bìm ba răng), Ipomoea involucrata (Bìm tổng bao), Smilax glabra (Thổ phục linh), S. lanceafolia (Kim cang lá mác), … Cây ký sinh, phụ sinh ít gặp.

Cây tái sinh có thể kể đến Thẩu tấu, Côm, Lim xẹt, Dền, Bùng bục, Hu đay, Ba soi, Ba bét, Bưởi bung, Ngát, Ràng ràng (3 loài), Trám chim, Trám trắng,…. Các loài cây gỗ này là cây ưa sáng, tái sinh chồi là chính, có sức sống tương đối tốt, chiều cao khoảng 2-3m, đường kính nhỏ với mật độ khoảng vài trăn cây/ ha. Ưu hợp thường gặp Thẩu tấu + Hoắc quang + Ba soi + Bồ cu vẽ + Mua bà + Thao kén.

Trên đất mỏng đôi khi sỏi sạn do canh tác trước đây có chu kỳ quá dài có trảng cây bụi thấp 1-2m, che phủ thưa với các loài có hình thái thích ứng với tình trạng khô hạn của đất. Các loài thường gặp Rhodomyrtus tomentosa (Sim), Capparis spp. (các loài Cáp), Melastoma spp. (các loài Mua), Severinia monophylla (Gai xanh) …

2.1.4 Trảng cỏ thứ sinh nhiệt đới ẩm

Có diện tích không lớn, tạo thành các mảng nhỏ khoảng vài chục đến vài trăm m2, phân bố rải rác trong khu vực. Trảng cỏ có nguồn gốc thứ sinh, hình thành trên các đất làm nương bỏ hoang.

Thường gặp các quần xã cỏ cao 1-2m, che phủ kín với ưu thế Eupatorium odoratum (Cỏ Lào) trên đất còn dày; quần xã cỏ cao trung bình 0,5-1,5m, che phủ kín với ưu thế của Imperata cylindrica (Cỏ tranh) mọc lẫn Mimosa diplotricha (Trinh nữ có gai) trên đất còn tương đối dày; quần xã cỏ thấp 10-20cm, trên đất có tầng mặt chặt do người và gia súc giẫm đạp, che phủ kín với ưu thế của Chrysopogon aciculatus (Cỏ may), Cynodon dactylon (Cỏ gà), Eleusine indica (Cỏ Mần trầu) ngoài ra còn thường gặp các loài trong chi Panicum (Cỏ kê) và các cây cỏ 1 năm trong họ Fabaceae (Đậu) mọc lẫn; trảng cỏ cao >2m với ưu thế Saccharum arundinaceum (Lau).

Các loài cỏ khác có Chè vè (Miscanthus floridulus), Chít (Thysanolonea maxima), Cỏ lá tre (Lophatherum gracile), Cỏ gà (Chrysopogon aciculatus)…..

Các cây bụi thường gặp có Sim (Rhodomyrtus tomentosa), Bồ cu vẽ, ngoài ra còn thấy có Mua (3 loài), Găng (3 loài), Bọt ếch, Ngót dại, Vú bò và một số loài khác.

Lớp cây tái sinh trong dạng này không đáng kể.

Thảm thực vật ở vành đai nhiệt đới trên đất nội địa đới

2.1.5 Trảng cỏ chịu ngập thứ sinh nhiệt đới

   Chỉ có diện tích nhỏ, rải rác trên đồng bằng phù sa và các khe núi.

Trên đồng bằng phù sa, trảng cỏ phân bố thành dải hẹp ven hồ và thành các mảng nhỏ vài m2 ven suối hay ruộng Lúa nước. Trảng có nguồn gốc thứ sinh, chịu tác động thường xuyên của con người và gia súc. Vào mùa mưa, trảng cỏ thường bị ngập; vào mùa khô nơi ngập nông thoát ngập, nền đất nhiều chỗ trở nên cứng, nơi ngập sâu giảm độ sâu ngập nước.

   Ven hồ nơi ngập nông hay ven suối, bờ ruộng có trảng cỏ cao 10-30cm, che phủ kín với tập hợp loài khá phức tạp. Các loài cỏ có nhiều cá thể, chiếm vai trò chính thuộc họ Poaceae (Hòa thảo) với các loài như Dimeria falcata (Song phân cong), Dimeria thwaitesii (Song phân Thwaites), Echinochloa crus-galli (Cỏ lồng vực nước), Panicum curviflorum (Kê hoa cong), Panicum paludosum (Kê nước),….

   Các loài cỏ khác tuy nhiều loài nhưng chỉ có ít cá thể, thường gặp các loài Dương xỉ như Osmunda vachellii (Ráng ất minh Vache), Pteris vittata (Sẹo gà dải), Marsilea minuta (Rau bợ nhỏ), M. quadrifolia (Rau bợ nước), Ampelopteris prolifera (Ráng thư dực đâm chồi); các loài cỏ trong ngành Hạt kín có Hygrophila erecta (Đình lịch đứng), Hygrophila salicifolia (Đình lịch), Justicia procumbens (Tước sàng), … Cây bụi thường gặp Osbeckia chinensis (Mua tép), Ficus heterophylla (Vú bò).

   Nơi ngập nước sâu vào mùa khô ít khi cạn có quần xã Mimosa pigra (Trinh nữ đầm lầy), Sesbania bispinosa (Điên điển gai), S. cannabina (Điền thanh) cao 2-3m, che phủ thưa.

   Trong các khe núi, trên các bãi đất lầy thường gặp trảng cỏ cao >2m với ưu thế của Phramites karka (Sậy núi).

2.1.6 Quần xã thủy sinh nước ngọt nhiệt đới

Phân bố trong hồ, đầm ngập nước quanh năm, gồm các loài thủy sinh sống chìm, nổi và trôi nổi không cố định. Các loài thủy sinh chìm có Myriophyllum tetrandrum (Rong đuôi chó bốn nhị), Utricularia aurea (Rong ly vàng), Eriocaulon fluviatile (Dùi trống song), Blyxa aubertii (Lá hẹ), Potamogeton octandrus (Giang thảo tám nhị); loài rễ cắm trong bùn, lá nổi trên mặt nước: Sagittaria guyanensis subsp. lappula (Từ cô tròn); các loài trôi nổi có Azolla pinnata (Bèo hoa dâu), Salvinia cucullata (Bèo tai chuột), S. natans (Bèo ong), Pistia stratiotes (Bèo cái), Lemna japonica (Bèo cám Nhật Bản), L. perpusilla (Bèo tấm), Eichhornia crassipes (Lục bình).

Thảm thực vật ở vành đai á nhiệt đới

2.1.7 Rừng kín cây lá rộng á nhiệt đới ẩm

Phân bố ở khu vực đỉnh núi từ độ cao > 700m.

2.1.7.1 Rừng kín cây lá rộng á nhiệt đới ẩm trên đỉnh núi

Tại khu vực đỉnh, trên nền đất mỏng, rừng có chiều cao khoảng 10-15m, với các cây gỗ có đường kính 20-40cm, tạo độ che phủ >70%. Tầng cây gỗ có các loài Rhododendron simsii (Đỗ quyên Sim), Enkianus quinqueflorus (Hoa quyên), Quercus platycalyx (Dẻ cau), Quercus sp. (Dẻ trám), Q. bambusaefolia (Sồi lá tre), Calocedrus macrolepis (Bách xanh).

2.1.7.2 Rừng kín cây lá rộng á nhiệt đới ẩm trên sườn phía đông núi Ba Vì

Những cây vượt tán có chiều cao khoảng 35m, gồm các loài Canarium album Syzygium balsamineum.

Tầng tán: theo kết quả phân tích từ ô tiêu chuẩn, tầng tán gồm các cây gỗ có chiều cao từ 15 đến 32m, gồm các loài: Magnolia baviensis, Castanopsis tonkinensis, Acer laviegatum, Eurya japonica, Castanopsis sp., Cryptocarya sp., Elaeocarpus balansae, Litsea baviensis, Syzygium balsamineum, Machilus sp.,….

Tầng dưới tán gồm các cây gỗ cao từ 5 đến dưới 15 m các loài như: Ichnocarpus polyanthus, Acer laviegatum, Eberhardtia aurata, Litsea baviensis, Cryptocarya sp., Claoxylon indicum, Neocinnamomum sp., Adinandra sp., Antidesma sp., Camellia sp., Cinnamomum sp., Ficus tristylis, Polyalthia sp., Wendlandia sp., Castanopsis fissoides, Eurya sp.,....

Tầng cây bụi, cây tái sinh và thảm tươi: thường gặp các loài Ficus spp. (các loài Đa), Scheffelera spp. (các loài Chân chim), Litsea spp. (Bời lời), Mussaenda sp., Begonia (Thu hải đường), Impatien (Móng tay), Pteris (Dương xỉ). Lygodium flexuosum

Các loài phụ sinh chủ yếu thuộc họ Orchidaceae (Phong lan), các loài Dương xỉ với số lượng cá thể nhiều hơn vùng thấp. Dây leomới thấy loài Gnetum (Dây gắm).

2.1.7.3 Rừng kín cây lá rộng á nhiệt đới ẩm trên sườn phía Tây núi Ba Vì

Tầng vượt tán có các đại diện gồm các cây gỗ chiều cao từ 32 đến 35m như: Vernicia montana, Acer laviegatum, Aglaia perviridis, Lithocarpus sp., Madhuca pasqueri.

Tầng ưu thế sinh thái: gồm các cây gỗ có chiều cao từ 17 đến 32 m, thuộc các loài: Paranephelium sperei, Lithocarpus sp., Claoxylon indicum, Acer laviegatum, Adinandra sp., Adinandra sp., Cinnamomum sp.,

Tầng dưới tán: gồm các cây gỗ cao từ 4 đến dưới 17 m gồm các loài: Claoxylon indicum, Knema tonkinensis, Castanopsis sp., Camellia sp., Homalium zeylanicum, Ichnocarpus polyanthus, Polyalthia sp., Cryptocaria sp., Litsea baviensis, Aglaia perviridis, Eurya japonica, Nephelium mellipherum, Paranephelium sperei,….

Tầng cây bụi, cây tái sinh và thảm tươi:

Thực vật ngoại tầng: gồm các loài dây leo và bì sinh trên cây gỗ như: Tổ điểu, Phong lan, các loài dây leo thuộc họ Na, họ Trúc đào, ho Nho, họ Bầu bí, họ Dương đào,…

2.1.8 Rừng thứ sinh thường xanh ẩm á nhiệt đới

Tầng vượt tán: chỉ xuất hiện ở các khu vực có khe ẩm, cây gỗ vượt tán rất hiếm, đều là cây sót lại của trạng rừng nguyên sinh trước đây như Dẻ (Castanopsis sp.), Sấu (Dracontomelon duppreanum), Sồi (Quercus sp.),…

Tầng ưu thế sinh thái: cây gỗ thưa thớt, chiều cao khoảng 14 đến 25m nhưng không liên tục. Các loài đại diện có Alangium kurzii, Syzygium sp., Mallotus paniculatus, Claoxylon indicum, Dracontomelon duppreanum, Schefflera sp., Magnolia balansae, Castanopsis sp., Cinnamomum sp.,

Ở một số nơi, do tác động nặng nề của khai thác gỗ hoặc rừng được tái sinh sau nương rẫy, chưa có tầng tán rõ ràng, thành phần loài khá đơn giản. Tầng cây gỗ có tán nhấp nhô không liên tục, cây chỉ cao khoảng 10m bao gồm nhiều loài cây sống lâu ưa khí hậu mát, điển hình là các loài: Vối thuốc, Re Hương, Lim xẹt, Thẩu tấu lá dày, Trứng gà ba gân,, Kháo đá, Rè vàng, Gội, Sồi hồng, Xoan Nhừ,….

Tầng cây bụi thường thưa thớt, sức sinh trưởng của tầng cây bụi không tốt không đồng đều. Thành phần loài gồm: Lấu, Trọng đũa tuyến, Trọng đũa lá khôi, ỏng ảnh, Mua núi cao. Ở những nơi sáng thành phần có nhiều Bồ cu vẽ, Găng.

Tầng thảm tươi gồm: các loại Cỏ lá tre cao, Cỏ lông, Cỏ Chè vè, các loài Quyết thực vật, Loài mua đất, Thach tùng, Rêu.

Thực vật ngoại tầng ít gồm các loài: Phong lan, Dây leo nhỏ thuộc họ Na, họ Trúc đào. Trong dây leo đáng chú ý có loài Ngũ da bì, Dây Gắm nhỏ… là những loài quí hiếm cũng có mặt.

2.1.9 Trảng cây bụi thứ sinh á nhiệt đới ẩm

Các loài cây bụi điển hình ở đây có: Clerodedrum sinensis (Mò), Breynia fruticosa (Bồ cu vẽ), Glochidion velutinum (Sóc lông), Urena lobata (Ké hoa đào), Rubus alceaefolius (Ngấy), Sida rhombifolia (Ké hoa vàng),

Các loài cỏ mọc xen có: Thysanolaena maxima (Chít), Miscanthus floridulus (Chè vè), Erianthus arundinaceus (Lau), Eupatorium odoratum (Cỏ Lào); Cỏ lá tre (Lophatherum gracile), cứng (Arundinella hispida), Sậy nhỏ (Nayraudia arundinacea), Lau (Saccharum arundinaceum),…

2.2 Thảm thực vật nhân tác

2.2.1 Rừng trồng    

Rừng trồng phân bố tập trung ở vùng thấp <400m, bao gồm:

Thông Mã vĩ phát triển mức độ trung bình, cây cân đối, ít sâu bệnh. Tầng cây bụi thảm tươi dưới tán rừng phát triển kém, nhiều cành khô lá thông rụng nên dễ bị lửa rừng.

Các loài Bạch đàn phát triển mức độ trung bình, cây cân đối, ít sâu bệnh. Tầng cây bụi thảm tươi dưới tán rừng phát triển mạnh, nhiều cỏ khô lá rụng nên dễ bị lửa rừng.

Rừng Bạch đàn hom U-Rô trồng thử nghiệm Bạch đàn phát triển mức độ trung bình, cây cân đối, ít sâu bệnh. Tầng cây bụi thảm tươi dưói tán rừng phát triển kém.

Rừng Keo lá tràm và Keo tai tượng trồng rải rác ở trong toàn khu vực nghiên cứu. Diện tích rừng do dân trồng nhỏ và không tập trung. Keo đang phát triển tốt, một phần diện tích rừng keo gần đến tuổi khai thác.

Rừng Sa mu (Cunninggghamnia lanceolata), phân bố ở độ cao 400-600m, cao 15-18m, đường kính 20-30m. Cây thích hợp với khí hậu có mùa đông dài lạnh. Tương đối phù hợp ở Ba Vì từ độ cao 400 m trở lên.

Rừng Bồ đề trắng và Mỡ trồng rải rác ở một số điểm.

Rừng Luồng Thanh Hoá trồng rải rác ở trong khu vực nghiên cứu. Diện tích rừng do dân trồng nhỏ và không tập trung. Rừng Luồng phát triển ở mức độ trung bình. Đất dưói rừng Luồng còn khá tốt nhưng khô, cây bụi thảm tươi, cây tái sinh ít.

2.2.2 Cây nông nghiệp ngắn ngày

Bao gồm Lúa nước trồng tập trung trên đồng bằng phù sa, thường trồng 2 vụ/năm.

Tập đoàn cây màu gồm Ngô, Khoai lang, Sắn, Dong riềng, các loại Đậu, Lạc, Vừng, Mía, các loại rau trồng trên các địa thế cao của đồng bằng theo kiểu xen canh hay trồng thường xuyên trên các đồi thấp thoải, sườn núi.

2.2.3 Các cây trồng trong khu dân cư

   Trong khu dân cư nông thôn có các cây bóng mát, vật liệu xây dựng (Xoan, Tre), cây ăn quả (Mít, Chuối, Ổi, Na, Bưởi, Cam, Dừa …) và các loài cây rau, màu. Trong khu dân cư đô thị phổ biến tập đoàn cây bóng mát như Xà cừ, Sấu, Dái ngựa, Hoa sữa và các cây cảnh trong các công sở.

Scroll to top